Khe hở vòm miệng toàn bộ kèm theo khe hở môi

Khe hở vòm miệng không toàn bộ

Phẫu thuật dị tật khe hở môi vòm miệng

trước mổ
sau mổ

KHE HỞ VÒM MIỆNG

 Khe hở môi-vòm miệng là dị tật bẩm sinh chiếm tỷ lệ cao nhất  vùng hàm mặt, khoảng 1‰ trẻ sơ sinh.

Các KHM-VM: biến đổi cấu trúc giải phẫu, hình thể thẩm mỹ của mặt, gây rối loạn chức năng ăn uống, hô hấp, phát âm, ảnh hưởng tới tâm lý của trẻ và gia đình trong hoà nhập cộng đồng

NGUYÊN NHÂN

a) Yếu tố ngoại lai: là những yếu tố bên ngoài tác động vào quá trình mang thai

– Yếu tố vật lý: phóng xạ, tia X, cơ học, nhiệt độ…

– Yếu tố hoá học: Thuốc trừ sâu, Dioxin, Chì, Carbon v.v…

– Yếu tố sinh vật.Nhiễm vi khuẩn, xoắn khuẩn, nhiễm virus.

– Yếu tố thần kinh: Stress.

  1. b) Yếu tố nội tại:

– Di truyền.

– Khiếm khuyết của nhiễm sắc thể.

– Ảnh hưởng của tuổi và giống nòi.

 PHÂN LOẠI KHE VÒM MIỆNG.

Khe hở vòm miệng: được chia làm 4 mức độ:

KHVM độ I: khe hở ở vòm mềm

KHVM độ II: KHVM mềm và một phần vòm miệng cứng.

KHVM độ III: khe hở vòm miệng toàn bộ một bên.

KHVM độ IV: khe hở vòm miệng hai bên toàn bộ

CHẨN ĐOÁN.

1. Những rối loạn chức năng.

– Rối loạn về ăn uống: trẻ bú khó, không mút được vú, khi bú dễ bị sặc,thức ăn vướng lại ở vòm họng gây viêm họng cấp, phì đạiamidal

– Rối loạn hô hấp: thở hỗn hợp qua cả mũi và miệng, gây viêm mũi họng cấp

– Rối loạn phát âm: nói ngọng, phát âm không chuẩn(do khoang miệng và mũi thông với nhau)

2. Chẩn đoán khe hở vòm miệng dựa vào dấu hiệu lâm sàng

  1. Độ rộng khe hở

– Độ rộng khe hở vòm miệng đo ở vị trí giữa vòm miệng cứng và vòm miệng mềm hay chính là khoảng cách giữa hai gai mũi sau.

– Với khe hở vòm miệng một bên thì vách ngăn mũi thường dính vào bên lành. Đối với khe hở vòm miệng hai bên thường kèm theo khe hở môi hai bên. Khi bệnh nhân há miệng thấy rõ vách ngăn mũi lơ lửng ở giữa khe hở.

– Khe hở vòm miệng hai bên thường rộng, khi tạo hình sẽ khó khăn và phức tạp hơn  khe hở vòm miệng một bên.

  1. Biến dạng của mũi:

Khe hở vòm miệng toàn bộ thường phối hợp với khe hở môi gây biến dạng của mũi

Khe hở môi làm cánh mũi bên bệnh bè ra và thấp hơn so vói bên lành, vách ngăn mũi lệch sang bên lành.

– Khe hở môi hai bên: vách ngăn mũi ngắn, sụn đầu mũi ngắn và dính với mấu tiền hàm.

  1. Răng và cung hàm

– Răng mọc lệch và xoay trục

– Cung hàm

+ Khe hở cung hàm một bên thường tạo thành hình bậc thang vì bên lành có cơ vòng môi phát triển hơn nên bị kéo ra ngoài còn bên bệnh bị thiểu sản.

+ Khe hở cung hàm hai bên có thể nhỏ to khác nhau tuỳ mức độ, mấu tiền hàm di lệch

 

ĐIỀU TRỊ

1. Tuổi phẫu thuật.

– Từ 12 tháng tuổi tùy thuộc vào độ rộng của khe hở. Đối với khe hở vòm miệng mềm thì có thể phẫu thuật sớm lúc 12 tháng tuổi, KHVM toàn bộ thời gian phẫu thuật từ 18 đến 24 tháng tuổi. Phẫu thuật sớm gây thiểu sản xương hàm trên, phẫu thuật muộn gây khó khăn cho phẫu thuật.

2. Nguyên tắc:

– Phục hồi giải phẫu cơ nâng màn hầu

– Đóng kín khe hở giữa hốc mũi và khoang miệng, đẩy vòm lùi lại phía sau nhằm cải thiện chức năng phát âm.

3. Các phương pháp phẫu thuật tạo hình vòm miệng

– Phương pháp Langenback

– Phương pháp Push back

– Phương pháp Veau

– Phương pháp Limberg

– Phương pháp Furlow

– Phương pháp sử dụng vạt thành bên hầu ( KHV- thiểu sản vòm hầu)

4 Quá trình điều trị toàn diện cho trẻ có khe hở môi – vòm miệng

– Hướng dẫn nuôi dưỡng sau khi sinh

– Làm máng bịt ( Ham NAM): Khi trẻ được 1 đến 2 tuần tuổi

– Mổ tạo hình môi: từ 3 đến 6 tháng tuổi.

– Tạo hình vòm miệng: khi trẻ 12 đến 18 tháng.

– Dạy phát âm: sau mổ 2 đến 4 tuần.

– Ghép xương ổ răng: khi trẻ 8 – 10 tuổi .

– Nắn hàm, phẫu thuật sửa chữa và thẩm mỹ: từ 6 – 18 tuổi.

TIẾN TRIỂN

Phục hồi giải phẫu, chức năng và thẩm mỹ sau phẫu thuật.

DỰ PHÒNG

Khuyến cáo cộng đồng về các tác nhân có thể ảnh hưởng đến bào thai như nghề nghiệp, dinh dưỡng, sức khoẻ của người mẹ để những bà mẹ có phương pháp dự phòng.