U MÁU VÙNG MẶT Ở TRẺ EM

U MÁU TRẺ EM

 

 

Ths. Bs. Trịnh Đỗ Vân Ngà

Khoa Răng Hàm Mặt – Bv Nhi Trung ương

 

I – ĐẠI CƯƠNG

 

U máu hay u mạch máu trẻ em (Infantile Hemangioma) là những tổn thương mạch máu lành tính,  đặc trưng bởi sự phát triển nhanh chóng và sau đó là tự thoái triển. U máu là khối u phổ biến nhất ở trẻ sơ sinh, chiếm 5-10% trẻ dưới 1 tuổi.

 

U MÁU TRẺ EM

U MÁU TRẺ EM

 

U máu có thể gặp ở mọi vị trí trên cơ thể, trên da hoặc trong các cơ quan. Đối với các khối u máu ở da, 60% gặp ở vùng đầu – cổ, 25% gặp ở thân mình và 15% là ở các chi. Các vị trí khác có thể gặp ở gan, ống tiêu hóa, tuỵ, lách, phổi, bàng quang,… 

Trong quá trình phát triển, u máu có thể gây các tổn thương như: loét, hoại tử, bội nhiễm thứ phát… thậm chí suy tim, tắc mạch máu. Đặc biệt các u nằm ở một số vùng như mi mắt, mũi, tai, miệng, hậu môn… có thể gây ra những rối loạn nặng nề về chức năng cho trẻ.

 

II – PHÂN LOẠI

Năm 1996, tại hội nghị lần thứ 11 tại Rome, Hiệp hội quốc tế nghiên cứu các bất thường mạch máu (ISSVA – International Society for the study of Vascular Anomalies) đã phân loại bất thường mạch máu thành hai nhóm:

U mạch máu: là những tổn thương tăng sinh tế bào nội mo, thường xuất hiện sau sinh, phát triển nhanh trong những tháng đầu của đời sống và thoái lui qua nhiều năm.

Dị dạng mạch máu: là những sai sót trong phát triển hình dạng của mạch máu với các tế  bào nội mô bình thường, xuất hiện vào lúc sinh, lớn lên tỷ lệ thuận với sự tăng trưởng của trẻ và không bao giờ thoái lui. Có thể đột ngột tăng kích thước sau một chấn thương, nhiễm khuẩn hay thay đổi hormone.

Bảng: Phân loại của ISSVA (1996) về các bất thường mạch máu

U mạch máu (Hemangioma)

Dị dạng mạch máu (Vascular malformation)

U mạch máu trẻ em

U máu bẩm sinh

U mạch dạng túi

U mạch dạng mô kiểu kaposiform

U hạt sinh mủ

Đơn – Dị dạng mao mạch

            Dị dạng tĩnh mạch

            Dị dạng động mạch

            Dị dạng bạch mạch

Phối hợp – Dị dạng động tĩnh mạch AVM

                   Thông động tĩnh mạch AVF

 

III –  BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

Các u máu ở trẻ em đặc trưng bởi sự phát triển nhanh chóng và sau đó là từ từ thoái triển :

  • Xuất hiện và tăng trưởng nhanh chóng ở giai đoạn ngay sau sinh (từ lúc sinh đến 4 tuần đầu)
  • U nổi gồ lên mặt da, có dạng vòm, chia thùy, hay có dạng mảng, hoặc phối hợp các hình thái trên
  • U phát triển nhanh nhất trong 4 – 6 tháng đầu đời với nhưng u máu nông, có thể 8 – 12 tháng với những u máu sâu.
  • Tốc độ sinh sôi giảm trong 6 – 12 tháng sau đó
  • Ổn định trong khoảng 1 – 1.5 năm
  • U máu trẻ em thoái triển 50% khi trẻ được 5 tuổi và 70% lúc 7 tuổi.

Hình ảnh một số thể u máu trên lâm sàng:

Hình ảnh một số thể u máu trên lâm sàng

Hình ảnh một số thể u máu trên lâm sàng

Các biến chứng của u máu

  • Loét, nhiễm trùng: Loét thường gặp ở các u máu phát triển quá nhanh và căng. Nhiễm trùng thứ phát có thể xảy nhưng hiếm khi gây viêm mô tế bào, ap xe.
  • Chảy máu : Có thể gặp khi u bị tổn thương nhưng hiếm khi gây nguy hiểm, trừ u máu trong xương hoặc một số u máu phức tạp vùng đầu cổ.
  • Tắc nghẽn đường thở : với các khối u lớn gây chèn ép đường hô hấp, nguy hiểm đến tính mạng.

 

IV – CHẨN ĐOÁN U MÁU

Chẩn đoán u máu dựa trên các đặc điểm lâm sàng (thời điểm xuất hiện, tiến triển, hình thái của u) phối hợp các phương pháp cận lâm sàng.

Chẩn đoán hình ảnh:

Siêu âm màu và chụp mạch cản quan là hai kỹ thuật thường dùng trong chẩn đoán hình ảnh u máu. Siêu âm màu là phương pháp đơn giản và hiệu quả trong chẩn đoán u máu, cung cấp nhưng thông số huyết động học của u (phổ mạch máu, lưu lượng dòng chảy). Chụp cản quang mạch máu giúp khảo sát các mạch máu nuôi dưỡng u, đồng thời đánh giá về  kích thước, mức độ thông nối mạch máu trong trường hợp u máu thể thông động tĩnh mạch, thể động mạch. 

Ngoài ra, chụp cắt lơp vi tính và chụp cộng hưởng từ cũng có thể được sử dụng trong chẩn đoán u máu. Hai phương pháp này được chỉ định khi u máu lan rộng, cần can thiệp phẫu thuật. Chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ cho phép xác định tương quan của u với các tổ chức xung quanh, cung cấp những thông tin hữu ích cho việc chuẩn bị phẫu thuật, nhất là các u máu lớn, nằm ở sâu. 

Cần phân biệt u mạch máu và dị dạng mạch máu.

Sinh thiết có thể được thực hiện khi còn nghi ngờ.

V – ĐIỀU TRỊ  U MÁU

Do tính chất lành tính và khả năng tự thoái triển, nhiều người cho rằng u máu không cần điều trị. Tuy nhiên, trước khi thoái triển, u có thể tiến triển nhanh, gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ, chức năng, và có khi gây nguy hiểm cho trẻ. Vì vậy, cần đưa trẻ đi khám sớm để có biện pháp điều trị phù hợp. Các lựa chọn điều trị tùy thuộc vào bản chất tổn thương, tiến triển, vị trí, ảnh hưởng đến thẩm mỹ và chức năng,…

  1. Điều trị bảo tồn:

Các thuốc được sử dụng để điều trị u máu bao gồm: 

Propranolol:  đã trở thành lựa chọn điều trị các u máu gây biến dạng hoặc ảnh hưởng chức năng rõ rệt. Thuốc có hiệu quả khá rõ trong việc giảm kích thước khối u sớm chỉ sau 1 – 2 tuần điều trị. Propranolol ít tác dụng phụ, tuy nhiên có thể gây hạ đượng huyết và xỉu ở trẻ khi dùng quá liều. Vì vậỵ việc điều trị cần được giám sát chặt chẽ bởi bác sỹ và tái khám đúng hẹn.

Corticosteroid: có tác dụng tốt với u máu đang trong giai đoạn phát triển. Thuốc làm giảm sự tăng trưởng chung của cơ thể và do đó làm giảm sự sinh sôi của u. Có thể dụng đường uống, tiêm, hoặc kem bôi tại chỗ. Tuy nhiên, không dùng kéo dài bởi corticosteroid có nhiều tác dụng phụ. 

Interferon: được lựa chọn khi không đáp ứng với corticosteroid. Tuy nhiên ngày nay ít được sử dụng do có nhiều tác dụng phụ như: tăng men gan, suy giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu,…

  1. Điều trị can thiệp:

Tiêm xơ: Tiêm xơ là phương pháp cổ điển trong điều trị u máu thể dưới da, dưới niêm mạc, u bạch mạch hoặc dị dạng tĩnh mạch.. Mục đích nhằm làm xơ hóa mạch máu trong u, hạn chế sự phát triển của u. Phương pháp này thường được sử dụng trước khi tiến hành phẫu thuật cắt bỏ u. Tuy nhiên, có thể gặp các biến chứng như: đau khi tiêm, nhiễm trùng, hoại tử mô mềm, tổn thương thần kinh, nhiễm độc thận, tim,… hoặc gây ra các di chứng nặng nề về thẩm mỹ, chức năng. Vì vậy ngày nay phương pháp này ít được sử dụng.

Laser: Laser được sử dụng để điều trị các u máu phẳng và có hiệu quả tốt với các u máu nằm nông trên da. Nhiều u máu loét có đáp ứng tốt với sự giảm đau kèm theo sự tái biểu mô hóa nhanh và thúc đẩy sự thoái triển u. Tuy nhiên cần điều trị nhiều lần do u dễ tái phát sau điều trị vài tuần. Có thể để laị sẹo hoặc những thay đổi trên da sau điều trị. Phương pháp này không thích hợp với các tổn thương sâu hoặc tổn thương phối hợp bởi nó có thể làm xấu thêm tình trạng loét.

Phẫu thuật: Chỉ định khi u máu nguy cơ chảy máu và làm tổn thương chức năng (chèn ép thần kinh,…) và tổn thương do biến dạng thẩm mỹ. Phẫu thuật có thể làm một thì hay nhiều thì, có hoặc không tiêm xơ hoặc nút mạch trước phẫu thuật.

 

VI – KẾT LUẬN

U máu là một tổn thương lành tính của mạch máu. Tiến triển u máu trải qua ba giai đoạn tăng trưởng – ổn định – thoái triển. Các u máu nhìn chung ít gây nguy hiểm nhưng thường ảnh hưởng đến thẩm mỹ và chức năng. Vì vậy, lời khuyên chung cho trẻ em bị u máu là trẻ cần được đưa đến khám và điều trị càng sớm càng tốt. Phát hiện sớm khi diện tích u còn nhỏ, mạch máu cũng nhỏ, điều trị sớm cho kết quả tốt. 

 

| Người Đăng:

Tin tức đoàn phẫu thuật tạo hình hàm mặt- sọ mặt hoa kỳ

Hội chứng Pierrobin và điều trị

dị tật bẩm sinh khe hở môi và khe hở vòm miệng

Nang Nhầy Sàn Miệng

Hàm chỉnh hình trước phẫu thuật cho trẻ khe hở môi vòm từ sơ sinh

HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH DÍNH LƯỠI

biến dạng mũi và cách điều trị của các bác sĩ khoa Răng hàm mặt -viện nhi trung ương

Quản lý bệnh nhân dị tật khe hở môi vòm miệng từ khi sinh ra đến khi trưởng thành